DR TRẦN-ĐĂNG HỒNG & KIM-THU
Reading, UK

GDP đầu người của Đông Âu và Nga Sô


KHẢO SÁT GDP ĐẦU NGƯỜI CỦA ĐÔNG ÂU VÀ NGA XÔ QUA CÁC THỜI KỲ

 

xehoi-nga

 

Ngân Hàng Thế Giới (WB, World Bank) và Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) không có cung cấp số liệu GDP của các nước Cộng Sản kể từ 1960, ngoại trừ Việt Nam và Trung quốc. Cho tới nay, vẫn không có dữ liệu của Bắc Triều Tiên. Riêng Cuba, WB chỉ có số liệu 10 năm, từ 1960 đến 1969 mà thôi. Còn các quốc gia Đông Âu, chỉ có số liệu từ 1970 cho Hungary, và từ 1980 cho Poland, Albania, Bulgaria và Romania. Nga xô bắt đầu có GDP đầu người cung cấp từ 1994, còn các quốc gia tan rả từ Liên Bang Xô Viết bắt đầu từ 2000.

 

Trong bài này, tác giả khảo sát ảnh hưởng vào GDP đầu người do biến cố lịch sử 1989-1990 làm khối Cộng Sản Đông Âu và Liên Bang Xô Viết sụp đổ.

 

Vì thiếu số liệu cho thời gian cộng sản trước 1990, trong biểu đồ 1, tác giả phân tích GDP đầu người của 5 quốc gia cựu Cộng Sản, gồm Hungary (từ 1970), Poland, Romania, Bulgaria và Albania (từ 1980). Để so sánh, tác giả xử dụng 2 nước tư bản láng giềng là Austria và Greece làm dẫn chứng.

 

Có lẻ sự chênh lệch GDP đầu người giữa 7 quốc gia này không lớn lắm ngay sau đệ nhị thế chiến, vì chiến tranh tàn phá giống nhau. Tuy nhiên thời gian sau thế chiến, sự cách biệt GDP đầu người giữa 2 khối tư bản, ở đây là Austria và Greece đại diện, và Cộng Sản Âu châu càng ngày càng lớn (Biểu đồ 1). Một cách tổng quát, GDP đầu người tăng trưởng rất chậm ở các nước khi còn cộng sản, tức thời kỳ trước 1990.

 

Ba thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1980-1985, 1998 và 2008 thấy rõ ràng ở các nước tư bản, nhưng không thấy ở các nước cựu cộng sản, ngoại trừ khủng hoảng 2008 khi các nước này không còn cộng sản. Bây giờ hảy phân tích từng quốc gia một.

 

Năm 1990 (đúng ra là cuối 1989 đến 1992) là dấu mốc lịch sử của Đông Âu và Liên Bang Xô Viết, khi chế độ cộng sản bị xóa bỏ trên các quốc gia này. Vì vậy, tác giả phân tích GDP đầu người cho các quốc gia này theo 3 thời kỳ: thời Cộng Sản (trước 1990), thời kỳ chuyển tiếp (1991-1999) và thời kỳ phát triển (2000 đến 2011). Bảng 1 trình bày GDP đầu người của mỗi quốc gia.

 

image001

 

 

Biểu đồ 1. Đường biểu diển GDP đầu người của Hungary (3), Poland (4), Romania (5), Bulgaria (6) và Albania (7) so với 2 nước Austria (1) và Greece (2) làm dẫn chứng để so sánh.

 

 

Để tính vận tốc tăng trưởng GDP đầu người (US$/năm), trong mỗi thời kỳ, thường là đoản kỳ trên dưới 10 năm, tác giả dùng mô hình đường thẳng (linear regression) với công thức GDP = a*t + b, trong đó t là thời gian năm (year), b là GDP ở điểm gốc (thời điểm 0) và a là vận tốc tăng trưởng GDP (* là dấu nhân).

 

image002

 

Biểu đồ 2. Đường biểu diển GDP đầu người của Slovenia (1), Czechoslovia (2), Slovakia (3), Lithuania (4), Russia (5) và Georgia (6) trong thời kỳ hậu cộng sản.

 

 

Hungary: Kể từ 1970 đến 1990 hay từ 1991 đến 1999, Hungary có GDP tăng trưởng đều, nhưng chậm, so với Austria hay Greece. Tuy nhiên, GDP của Hungary tăng trưởng khá nhanh sau năm 2000 với 918 US$/năm, tuy thấp so với vận tốc 1736 US$/năm của Greece, hay 2588 US$/năm của Austria, nhưng cao hơn Turkey (721 US$/năm) (Biểu đồ 1 và Bảng 1).

 

Poland: Tăng trưởng rất chậm trong thời cộng sản (4,6 US$/năm), gia tăng khá mạnh trong thời kỳ chuyển tiếp (336 US$/năm), và gia tăng mạnh sau 2000 (923 US$/năm), bằng vận tốc của Hungary (918 US$/năm).

 

Romania: GDP không có gia tăng gì trong thời gian 1980-1987, sau đó giảm thấp, vì vậy coi như tăng trưởng âm trong thời gian 1980-1990. GDP trì trệ từ 1991-1999 (93 US$/năm), nhưng sau 2000 GDP cất cánh với vận tốc khá cao (766 US$/năm), cao hơn Turkey (721 US$/năm).

 

Bulgaria: GDP gia tăng trong thời gian 1980-1987, nhưng sau đó giảm nhanh dưới điểm gốc, vì vậy coi như tăng trưởng chậm trong thời gian 1980-1990. Tuy nhiên, trong thời gian 2000-2011, GDP gia tăng khá mạnh (572 US$/năm).

 

Albania: Tăng trưởng yếu (0,6 US$/năm) trong thời cộng sản, và yếu nhất trong thời hậu cộng sản (293 US$/năm).

 

image003

 

Biểu đồ 3. Đường tăng trưởng GDP đầu người của Nga và Trung quốc từ 1995 đến 2011

 

 

Bảng 1. Vận tốc tăng trưởng GDP đầu người (US$/năm)(tức trị số a trong công thức GDP = a*t +b) của một số quốc gia cựu cộng sản Đông Âu và Nga xô (màu xanh) qua các thời kỳ trước biến cố lịch sử 1990, thời kỳ chuyển tiếp 1991-1999 và thời kỳ phát triển hậu cộng sản từ 2000 đến nay (2011). Năm quốc gia dùng làm kiểm chứng để so sánh là 3 quốc gia tư bản láng giềng (Austria, Greece, Turkey, màu vàng) và 2 quốc gia cộng sản tồn tại (Trung quốc và Việt Nam, màu đỏ).

 

Quốc gia

Trước 1990

1991-1999

2000-2011

Austria

803

538

2589

Greece

299

405

1736

Turkey

123

45

721

Hungary

125

175

918

Poland

4,6

336

923

Romania

0

93

766

Bulgaria

95

156

572

Albania

0,6

92

293

Russia

-

105

1056

Georgia

-

136

246

Lithuania

-

-

1005

Czechoslovakia

-

-

1521

Slovenia

-

-

1595

Slovakia

-

-

1464

China

13

66

393

Vietnam

15

36

90

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Russia: Không có dữ kiện GDP đầu người trước 1990, tuy nhiên với GDP 167 US$ vào năm 1994, chứng tỏ Russia là một quốc gia nghèo trong thời cộng sản, mặc dầu là cường quốc quân sự. Tuy nhiên, vận tốc tăng trưởng sau 2000 khá lớn (1056 US$/năm), nhiều gấp 2,7 lần Trung quốc. Biểu đồ 3 cho thấy Trung quốc không những không bắt kịp mà càng ngày càng thua xa Russia về GDP đầu người.

 

Ngoại trừ Georgia có vận tốc tăng trưởng yếu (246 US$), các nước cựu công sản khác đều có vận tốc tăng trưởng cao trong thời gian 2000-2011, như Lithuania (1005 US$), Czechoslovakia (1521 US$), Slovenia (1595 US$), Slovakia (1464 US$), cao gấp đôi Turkey, hay hơn 3 lần Trung quốc.

 

Từ các biểu đồ nói trên vả Bảng 1, ta có thể kết luận:

 

1. Các quốc gia Cộng Sản không có GDP đầu người cao bằng các quốc gia tư bản. Chẳng hạn trong 16 quốc gia đề cập trong bài này, quốc gia tư bản nghèo như Turkey vẫn có GDP đầu người cao hơn các quốc gia khi còn cộng sản.

 

2. Phải mất từ 5 đến 10 năm sau khi cộng sản bị giải thể, GDP đầu người của các nước cựu cộng sản mới bắt đầu cất cánh bay cao.

 

3. Một khi được cất cánh, vận tốc tăng trưởng GDP đầu người của các nước cựu cộng sản vẫn không thua kém gì các nước tư bản lâu đời. Chẳng hạn vận tốc tăng trưởng GDP đầu người của Czechoslovakia, Slovenia và Slovakia đâu có thua kém gì Greece. Nhưng tại vì bị tụt hậu trên dưới 50 năm trong chế độ cộng sản, phải cần vài thập niên nữa các quốc gia cựu cộng sản Đông Âu may ra mới bắt kịp các nước láng giềng tư bản về GDP đầu người.

 

 

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capita http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

 

 

Reading, 5/2013

Trần-Đăng Hồng, PhD