DR TRẦN-ĐĂNG HỒNG & KIM-THU
Reading, UK

Thăm Lục Tỉnh qua ca dao - Phần 6

23/6/2009

THĂM LỤC TỈNH QUA CA DAO

Phần 6: Cần Thơ – Sóc-Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau.

 

 
Cô gái chèo ghe bán cam trên sông Cái Răng


Ghe chàng trôi theo dòng nước trên kinh Xà No, chàng nhìn những đám lục bình bềnh bồng trên sóng nước, lòng quặn đau nhớ về những mối tình dang dở.

Có một loài hoa vừa đi vừa nở

Em lấy chồng rồi anh ở vậy thôi

Nữa mai trông đứng nhớ ngồi

Biết loài hoa ấy vừa trôi vừa buồn

 

Ghe chàng đi ven rừng U Minh, qua vùng Tắc Cậu nổi danh về khóm, rồi đến Vị Thanh Chương Thiện, Xà No, cuối cùng là Cái Răng của Cần Thơ.

 

Đất Châu Thành anh ở

Xứ Cần Thơ nọ em về

Bấy lâu sông cận biển kề

Phân tay mai trúc dầm dề hột châu.

 

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em, xin sắm một con đò

Để em qua lại mua cò gởi anh (cò = con tem bưu điện)

 

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Có thương em, anh mua cho một chiếc đò

Để em lên xuống thăm dò ý anh!

 

Xà No do tên Miên “Srok Snor” nghĩa là nơi có nhiều cây điên điển. Còn “Cái Răng”  cũng từ tên Miên là “K’ran” là nơi ngày xưa có nhiều ghe người Miên chở lò bếp “cà ràng” của người Miên đến bán. Kinh Xà No đào năm 1901 đến 1903 thì xong, nhờ đó hàng 4-5 chục ngàn ha ruộng được khai khẩn từ suốt Rạch Giá, Vị Thanh đến Cần Thơ, nên Cần Thơ trở nên trù phú, nhà nhà đều dư thừa lúa gạo:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền

Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê.

 

Ghe chàng  cặp bến Ninh Kiều Cần Thơ

Cần Thơ là tỉnh,

Cao Lãnh là quê,

Anh đi lục tỉnh bốn bề,

Mải đi buôn bán chẳng về thăm em.

 

Không biết tên “Cần Thơ” có tự thời điểm nào, chỉ biết qua sử sách với các tên Trấn Giang (1739), Vĩnh Định (1814), Phong Phú (1839), còn ngay trung tâm Cần Thơ là xã “Tân An” có đình Tân An được vua Tự Đức sắc phong năm Bính Tí (1876), cũng là năm chữ “Cần Thơ” lần đầu tiên được ghi chính thức trên sắc lệnh hành chánh thành lập “Hạt Cần Thơ” do thống đốc Nam Kỳ Bonard ký ngày 23/2/1876. Về nguồn gốc chữ “Cần Thơ”, chàng nhớ lại là có 2 thuyết.  Thuyết thứ nhất kể rằng khi chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, thuyền ngài lênh đênh trên sông Hậu, trong đêm khuya thanh vắng ngài nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát hòa nhau rất nhịp nhàng, từ một khúc sông xa vọng lại. Ngài xúc động và đặt tên con sông nhỏ này là “Cầm Thi Giang”. Cầm Thi được đọc trại thành Cần Thơ. Một truyền thuyết khác nói là khi xưa vùng Cần Thơ có trồng nhiều rau cần và rau thơm. Mỗi khi chèo ghe đi bán trên sông rạch, chủ ghe thường rao: “Ai mua rau cần thơm không”.  Rau cần thơm vì vậy đã vào ca dao, và cần thơm đọc trại thành Cần Thơ:

Rau cần rau thơm xanh mướt

Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn

 

Rau cần lại với rau thơm

Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều

 

Ngoài lúa gạo, Cần Thơ là miệt vườn phong phú:

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh
Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ

 

Chiều chiều quạ nói với diều
Ô Môn Bình Thủy có nhiều cá tôm

 

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về...

 

Cần Thơ đẹp, có bến Ninh Kiều dập dìu tài tử giai nhân. Vào thời Pháp, mang tên "Le quai de Commerce", sau mang tên “Bến Lê Lợi” vì nằm trên đường Lê Lợi dọc bờ sông, hay còn gọi là “Bến Hàng Dương” vì nơi công viên trồng nhiều hàng dương cắt tỉa có hình dáng đẹp. Bến Ninh Kiều có ghế đá công viên với nhiều hoa kiểng được khánh thành ngày 4/8/1958, và Cần Thơ xinh đẹp, thơ mộng và trù phú được mệnh danh “Tây Đô” vào đầu thập niên 1960:

 


Bến Ninh Kiều (1902)

 

Phong Dinh có bến Ninh Kiều

Có dòng sông đẹp có nhiều giai nhân

Cuộc đời luống những phù vân

Trở về bến cũ cố nhân xa vời

 

Cần Thơ có bến Ninh Kiều

Mỗi chiều thứ bảy người nhiều như nêm

Đẹp xinh cảnh sắc về đêm

Nhìn sông thấy nước nhớ thêm tình người

 

Cần Thơ có bến Ninh Kiều

Có nhiều gái đẹp mỹ miều làm sao!

 

Đất Cần Thơ có lắm tài tử giai nhân:

Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú
Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu
Quản chi nắng sớm mưa chiều
Lên doi xuống vịnh cũng chèo thăm em

 

Cần Thơ đi dễ khó về

Trai đi có vợ gái về có con

 

Tới đây thì ở lại đây,
Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về

 

Là xứ “Cầm Thi” nên không lạ gì Cần Thơ có nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), còn gọi Thủ Khoa Nghĩa vì ông đậu thủ khoa kỳ thi Hương ở Gia Định năm 1835. Ông quê ở xã Long Tuyền tức Bình Thủy. Long Tuyền  là nơi chúa Nguyễn Ánh 4 lần đến trú ẩn trong thời bôn tẩu trốn Tây Sơn. Bùi Hữu Nghĩa là một trong 4 người tài hoa của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh:

Đồng Nai có bốn rồng vàng,

Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi.

 

Trong thời gian làm quan, vì là người thanh liêm, cương trực, một lòng vì nước vì dân, không nịnh bợ nên cấp trên không ưa, ông bị giáng chức hai lần. Trong lúc làm quan ở Trà Vinh (1848), vì công lý ông bênh vực người Miên trong vụ tranh chấp với người Hoa ỷ thế lực tiền tài toa rập với tham quan ô lại cướp quyền khai thác tôm cá ở rạch Láng Thé. Cuộc xô xát làm 8 người Hoa thiệt mạng. Viên Tổng Đốc và Bố Chánh Trà Vinh, vốn ăn hối lộ của người Hoa, ra lệnh bắt hết người Miên chủ chốt, và bắt cả luôn ông dẩn về Gia Định, kết án tử hình, vì cho ông là người xúi dục người Miên làm loạn. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn khăn gói ra tận kinh đô Huế, theo lời khuyên của Phan Thanh Giản, bà đến Tam pháp ty gióng trống “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Nhờ vậy, vua Tự Đức tha tội chết cho ông, nhưng ông bị lột chức làm lính đày lên Châu Đốc.

 

Cần Thơ là xứ ruộng lúa, nên chim, chuột, rắn, cá rô, lươn nhiều vô kể, nên có nhiều thức ăn đặc sản. Món chuột đồng nổi tiếng với câu vè: “Mắm lòng Châu Đốc, nem nướng Thủ Đức, Giò chả Lai Vung, Cần Thơ chuột đồng”.

Thịt chuột nấu chua lá giang
Chẳng có gì bằng cái thú đồng quê

 

Rắn hổ nấu cháo đậu xanh
Ăn vô tính nết hiền lành khác xưa

Mần lươn nấu cháo bẹ môn
Bắp chuối trộn ghém chẳng mong về nhà

 

Cá rô tôm tích chiên xù
Dòn dòn béo béo đi tu không đành

 

Sau khi thưởng ngoạn Cần Thơ, chàng cho ghe đến Cái Côn trên sông Hậu, rẽ vào kinh dẫn đến Ngã Bảy Phụng Hiệp. “Long” dành cho sông mẹ “Cửu Long”, “Phụng” dành cho các sông con đoàn tụ – “Phụng Hiệp” - nơi 7 con kinh hiệp lại, từ đây ghe thuyền có thể đến bất cứ nơi nào trong Lục Tỉnh, cho tới Cao Miên, hay ra Biển Đông, Biển Tây. Phụng Hiệp vì vậy có chợ nổi lớn nhất, nơi qui tụ của hàng đặc sản khắp vùng. Ghe thuyền rất đông đúc, nhất là lúc “nước đứng” mọi ghe thuyền tạm dừng ở đây để chờ con nước chảy theo thủy triều cho ghe thuyền thuận dòng, đỡ công chèo chống. Vì vậy nhiều mối tình thơ mộng được chớm nở ở đây:

Gặp em Ngã Bảy hò ơi!

Dòng sông bảy ngả tìm em ngả nào?

 

Sông ngả bảy chảy về bảy ngả
Thuyền đến đây về ngả nào đây
Buồm không theo kịp chim bay
Xa nhau biết hẹn ngày nào gặp nhau.

 

Anh từ Xà No đến

Em từ Ba Láng sang

Sợi tình yêu ai dệt

Trên mặt nước mênh mang

 

Bảy sông dồn nước, cuồn cuộn nước

Phù sa lớp lớp, quyện phù sa

 


Chợ Nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp

 

Từ Ngã Bảy Phụng Hiệp, chàng theo kinh Maspero đến Sóc Trăng. Đây là vùng “Ba Thắc” hay “Bassac” là tên của vị thần Bàsàk của Miên mà người Việt gọi là “Ông Tà” (thờ ở núi Tà Lơn, Châu Đốc).

Sóc Trăng là tiếng đọc trại từ "Srok Tréang” của Miên, có nghĩa là "Xứ nhiều lau sậy" vì nơi đây là đất giồng duyên hải có lắm lau sậy. Có người cho từ "Srok Kh'leang" có nghĩa là “Xứ kho bạc” vì ở Bải Xàu ngày xưa có một kho bạc. Dầu nguồn gốc nào, chữ Sóc Trăng do người Việt đặt từ lâu, nên vua Minh Mạng đổi thành “Nguyệt Giang”, chữ “Sóc” thành “Giang” (Sông), “Trăng” thành “Nguyệt”. Đây là vùng người Miên, cũng như Trà Vinh, nhiều địa danh mang âm hưởng tiếng Miên. Như “Bải Xàu” (do từ Srok Bai Chau), “Trà Nho” (Chụi Nhua), “Bạc Liêu” (Po Léo), “Trà Cuôn” (Prek Tra Cuon), “Đại Tâm” (Sráiume hay Swaichrume), “Bưng Cóc” (Beng Kok), “Kế Sách” (Ksach), v.v.

 

Là vùng ven biển, nên thiếu nước ngọt:

Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn

Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài  (tức vàm Đại Ngãi với sông Hậu)

Về nhà sau trước không ai

Hỏi ra em đã theo trai mất rồi

 

Tuy nước mặn đồng chua, Sóc Trăng rất phong phú:
Sóc Trăng nước mặn đồng bằng
Dân lành lúa tốt, của hằng trời cho
Kế Sách, Ba Rinh, Xa Mo
Lắm vườn nhiều ruộng, không lo thất mùa

 

Bởi vì, Sóc Trăng vừa có ruộng ở đồng thấp nhờ nước sông, lại có ruộng đất giồng gò cao nhờ nước mưa, nên kỹ thuật trồng lúa khác nhau:

Ra đi cha mẹ dặn dò
Ruộng thấp thì cấy, ruộng gò thì gieo

 

Gạo Ba Thắc nổi tiếng là ngon:

Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon
Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi

 

Sóc Trăng có nhiều đặc sản:

Ai về thẳng tới Năm Căn
Ghé ăn bánh hỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu
Mắm nêm, chuối chát, khế, rau
Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên!

 

Cũng như dân mọi miền Lục Tỉnh khác, người sóc Trăng rất hiếu khách:

Ngó lên trời, mưa sa lác đác
Ngó xuống đất, hạt cát nằm nghiêng
Rượu Ba Xuyên rót đãi người hiền
Trước là đãi bạn, sau giải phiền cho anh.

 

Rời Sóc Trăng, ghe chàng theo kinh Sóc Trăng đến Bạc Liêu, Cà Mau. Ghe chàng đang vào Miệt Thứ.

 

Sương khuya ước đẩm giàn bầu,

Em về Miệt Thứ bõ sầu cho ai

 

Sương khuya ướt đẫm giàn bầu,

Bậu về Miệt Thứ bõ sầu cho qua

 

Trước đây, chàng tự hỏi tại sao vùng này mang tên “Miệt Thứ”, chứ còn từ “Miệt Vườn” thì ai cũng hiểu dễ dàng. Có vào tới đây, chàng mới hiểu lý do tại sao. Chàng nhớ lại, theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng này mang tên “Thập Câu” nghĩa là mười con rạch, ở trong rừng U Minh Thượng của Rạch Giá tới U Minh Hạ thuộc Cà Mau. Đây là vùng nê địa, nước mặn đồng chua, muỗi, đỉa, cá sấu, cọp là mối lo sợ ngày xưa, dân cư thưa thớt, xóm làng thành lập ven bờ rạch. Chợ búa thường là đầu kinh rạch giáp với kinh rạch chánh, chưa có địa danh, nên dùng vị thứ cột mốc của con kinh rạch, bắt đầu bằng Thứ Hai, Thứ Ba, .... Thứ Mười Một. Chàng hỏi một lảo ông địa phương tại sao không có Thứ Nhất hay số Một. Lảo ông cười, nói là không có Thứ Nhất, mà phải hiểu rằng ghe chàng đang đi trên kinh xáng Xẻo Rô, nối sông Cái Lớn tới Cà Mau dài mấy chục cây số, là kinh chánh coi như mang số Một, lần lượt qua rạch Thứ Hai, Thứ Ba... Những kinh đào mới sau này thì mang tên “Rưởi”, chẳng hạng giữa rạch Thứ Chín và Thứ Mười thì mang tên “Thứ Chín Rưởi” ở ấp Thạnh An.

Con rạch Cái Thia chảy dìa (về) Tắc Cậu,

Con sáo qua sông con sáo đậu hiên nhà

 

Rạch Cái Thia chính là Thứ Hai, còn Huyện An Biên là Thứ Ba.

 

Bạc Liêu phát âm từ “Po Léo”, còn Cà Mau từ “Tuk-Khmâu” nghĩa là “Nước đen”.

Cà Mau là xứ quê mùa,

Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu. (Tùa, tiếng Triều Châu là lớn)

 

Em yêu anh nên đành xa xứ,
Xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau

 

Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

 

Bông bần rụng trắng bờ sông

Lấy chồng xa xứ khó mong ngày về

 

Từ ngày xa đất Tiền Giang
Em theo anh về xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu mà như sáo thổi,

Đỉa lềnh tựa bánh canh

 

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

 

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.

 

Tới đây sứ sở lạ lùng

Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê

 

Muỗi kêu như sáo thổi

Đỉa lội như bánh canh

Cỏ mọc thành tinh

Rắn đồng biết gáy

 

Rừng thiêng nước độc thú bầy

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh

 

Chiều chiều én liệng trên trời
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.

 

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um

 

Cà Mau hãy đến mà coi,

Muỗi kêu như sáo thổi,

Đỉa lội lềnh như bánh canh.

 

Rừng U Minh có tiếng muỗi nhiều

Sông Bến Hải tiêu điều nước non

 

Đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ thì Bạc Liêu, Cà Mau là vùng ruộng lúa “cò bay thẳng cánh”, là vựa lúa gạo của vùng Lục Tỉnh. Lục Tỉnh nỗi tiếng với “Công Tử Bạc Liêu”.

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai về xứ Bạc thong dong cuộc đời (Bạc = Bạc Liêu)

 

Bạc Liêu Cà Mau thuộc Trấn Hà Tiên của Mạc Cửu, nên người Triều Châu (Tiều) đến định cư ở đây từ mấy trăm năm, nay thật đông đúc:

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.

 

Qua nhiều đời sống chung Tiều-Việt, nên có lắm câu ca dao song ngữ

Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài 

A hia xùa bố a mùi ùm chai

 

Hia: anh; Mùi: em; Xùa bố: thú thê (cưới vợ); Ùm chai: không hay- tạm dịch như sau:

 

Chim kêu Ngồ Ố, Láng Dài

 Anh cưới vợ rồi em chẳng được hay

 

hay

Nào khi ến thạo hoang tùa

Sùng hoang, nghệch láo xuất quà thăm em

 

Ến thạo: lãng thao (sóng cả); Hoang tùa: phong đại (gió lớn); Sùng: thuận, Sùng hoang: thuận phong (thuận gió). Nghệch láo: nghịch trào (chỉ nước ngược); Xuất quà: đi ra khỏi nhà – tạm dịch là:

 

Nào khi sóng cả gió to

Thuận buồm, ngược nước rời nhà thăm em.

 

Vụ án “Đồng Nọc Nạn” xảy ra ở vùng này. Đó là cuộc tranh chấp đất đai lớn xảy ra năm 1928 tại làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, Bạc Liêu  giữa một bên là các gia đình nông dân Biện Toại (Mười Chức) và bên kia là giới địa chủ cường hào toa rập quan chức tham ô để cướp đất ruộng của dân:

Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,

Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.

Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,

Một ngàn hai tám, tiếng rày nổi vang.

Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,

Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.

Anh em Mười Chức công khùng,

Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan...

 

Người Hoa nắm kinh tế của cả vùng Lục Tỉnh. Từ Cái Răng, Sóc Trăng, Bạc Liêu đến Cà Mau có nhiều chành lúa gạo, tiệm tạp hóa, đều do người Hoa làm chủ. Họ đều là những nhà giàu nứt vách, có nhiều vợ Việt. Nhiều chàng Việt ganh tị:

Tóc mây rủ đất bậu chê
Nâng niu thằng Chệt tứ bề sọ không
Trên đầu nó vận đuôi nhông
Cái răng trắng nhẻ, miệng không nhai trầu
Gẫm trông thằng Chệt mà rầu…

 

Ngoài lúa gạo, Bạc Liêu Cà Mau là nơi giàu tôm đủ loại:

Đầu lớn chôm bôm, là con tôm tít
Bắt người ăn thịt, là con tôm hùm
Ở bụi ở lùm là con tôm cỏ
Bắt bỏ vào giỏ là con tôm lương
Gánh đất lấp đường là con tôm đất
Vô chùa lạy Phật là con tôm tu
Sóng đánh chổng khu là con tôm cồn
Nấu cơm sồn sồn là con tôm gạo
Lấy nước thơm thảo là con tôm trầm
Bịt chén bịt mâm là con tôm bạc
Phải quấy mình gạt là con tôm càng
Rèn đục rèn chàng là con tôm sắt
Hay cắn hay ngắt là con tôm chồng
Nghe bậu lấy chồng là con tôm lóng
Lấy chồng cho chóng là con tôm lang
Da thịt nó vàng là con tôm nghệ
Việc làm bê trễ là con tôm te.

 

Rừng U Minh là rừng tiền biển bạc với nhiều tài nguyên thiên nhiên:
Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh Cùng,
Tràm xanh củi lục anh hùng thiếu chi

 

Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm
Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu
Chiếu này anh chẳng bán đâu
Tìm em không gặp, anh gối đầu mỗi đêm
.

 

Sống ở Miệt Thứ thì không sợ đói:

Lựa là chợ búa kinh kỳ
Ở đồng ở ruộng ăn gì cũng ngon
Sáng thì rau ngỗ xào lươn
Trưa thì mắm ruốc cà um ngoài vườn
Cơm chiều kho cá lòng tong
Chấm đọt nhãn lồng bổ óc bổ gan

 

Thương em vì cá trích ve
Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng


Kèo nèo mà đem làm chua
Ăn với cá nướng chẳng thua món nào

 

Lửa than mà nướng cá trèn
Cái mỡ nó chảy láng giềng phải kêu
Theo anh về xứ Bạc Liêu
Ăn cá thay bánh, bàu nghêu thay quà

 

Rau đắng nấu với cá trê
Ai về Đất Mũi thì “mê” không về!

 

Ở Cà Mau có một món ăn độc đáo là “chả trứng mực”

Câu mực tuy cực mà vui
Khoái ăn trứng mực, lui cui câu hoài

 

Bạc Liêu Cà Mau là xứ nước lợ nên là xứ của cá kèo. Vào những con nước rong ngày rằm và mồng một của những tháng giáp Tết, tại các đầu kênh, mặt đập... cá kèo từ biền, trãng, ruộng... lũ lượt đổ xuống và nổi dày mặt kênh, nhìn xuống nước chỉ thấy toàn đầu cá kèo lố nhố - người miệt thứ thường nói Cá kèo nổi như mù u rụng”. Cá kèo nhiều vô số kể, sống trong hang ở nơi sình lầy, thích vũng trâu nằm, nơi cầm nuôi vịt đàn, đi bộ ngang cá kèo thấy động nhảy vào hang nghe rào rào như ai vãi nắm sạn vào nước. Không ai thấy cá kèo có trứng, người dân cho rằng bùn sinh ra cá kèo. Qua sách vở, chàng biết là cá kèo trưởng thành sống trong hang nơi đồng ruộng trong suốt mùa mưa. Vào đầu mùa nắng, cá kèo theo sông rạch ra biển, sống một thời gian rồi đẻ trứng ngoài biển, nở thành ấu trùng li ti, nước thủy triều mang bọt nước có ấu trùng chảy ngược dòng vào sông rạch rồi ruộng đồng có nước lợ, ấu trùng ăn các phiêu sinh sống quanh rể các loại cây của rừng ngập mặn như vẹt, đước, sú, lớn dần trong các tháng có mưa, đến tháng 9, 10 thì trưởng thành, và bắt đầu ra sông để ra biển cho một chu kỳ sinh sản khác. Thời gian này là lúc cá mập ngon nhất và dễ xúc bắt.

Bồn bồn, bông súng làm chua
Cá kèo kho quẹt thì mua thêm nồi

 

Cá kèo mà gặp mắm tươi
Như nơi đất khách gặp người cố tri

 

Cà Mau còn có món đặc sản “mắm ba khía”

Ba khía Cà Mau

Đuông nướng Dầm Dơi

 

Chàng quyết theo đoàn bắt ba khía vào “ngày hội ba khía” để quan sát nghề bắt ba khía rất cực nhọc. Mắm ba khía Rạch Gốc ở Đất Mũi nổi tiếng là ngon nhất vì ba khía ăn toàn trái mắm. Rạch Gốc nằm trong vùng rừng ngập mặn ở Đất Mũi Cà Mau. Bắt đầu mùa mưa, cây mắm ra trái, trái bắt đầu chín vào tháng 7, rụng vào tháng 8, tháng 9. Đến tháng 10 (âm lịch, tức tháng 11 dương lịch) thì ba khía mập đầy thịt có gạch đầy mai, là mùa ba khía bắt đầu giao phối để sinh sản, cũng là lúc nông dân bắt đầu đi bắt ba khía.  Vào những đêm 30, mồng một tháng 10 âm lịch, nước thủy triều dâng cao, như đã hẹn nhau từ thuở nào, triệu triệu ba khía bò ra khỏi hang, leo lên thân cây rừng ngập mặn, bắt cặp, chen chúc nhau, dân gọi là “ngày hội ba khía” chỉ kéo dài vài ba đêm.

Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía, hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi

 

Đừng lo cưới vợ miệt đồng
Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm


Muốn ăn ba khía, ốc len
Thì xuống Rạch Gốc khéo quên đường về

 

Bây giờ thì chàng đang đứng ở vùng Đất Mũi Cà Mau, nơi cực nam của Tổ quốc, vừa hoàn thành chuyến hành trình Lục Tỉnh:

Nam K sáu tỉnh em ơi

Cửu Long chín ngọn cùng khơi một nguồn

 

Nhớ lại bài học địa lý giảng dạy ở đầu thế kỷ 20, thì sau khi chiếm hết Nam Kỳ người Pháp chia thành 21 tỉnh:

Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà,
Sa, Bến, Long. Tân, Sóc,
Tây, Biên, Chợ, Mỹ, Bà,
Gò, Vĩnh, Thủ, Cần, Phước, Bạc.

Ðó là chữ đầu của 21 tỉnh của Nam Kỳ:

1-Gia Ðịnh, 2- Châu Ðốc, 3-Hà Tiên, 4-Rạch Gíá, 5-Trà Vinh, 6-Sa Ðéc, 7-Bến Tre,
8-Long Xuyên, 9-Tân An, 10-Sóc Trăng, 11-Tây Ninh, 12-Biên Hòa, 13-Chợ Lớn,
14-Mỹ Tho, 15-Bà Rịa, 16-Gò Công, 17-Vĩnh Long, 18-Thủ Dầu Một, 19-Cần Thơ;
20-Phước Tỉnh, và 21-BạcLiêu.

 

Như vậy chàng đã đi qua 17 tỉnh kể cả quê quán của chàng. Ngồi nghĩ chân tại vùng Đất Mũi, chàng hồi tưởng lại, trong suốt hành trình qua mỗi địa phương, chàng đều đến viếng đền thờ các bậc tiền bối nổi tiếng của Lục Tỉnh, và chàng ngạc nhiên thấy là cuối đời các vị này đều mang nhiều oan ức, phải mất nhiều chục năm sau mới được giải oan: Tả quân Lê Văn Duyệt gốc Cai Lậy, Phan Thanh Giản gốc Bến Tre, Thoại Ngọc Hầu gốc Vĩnh Long, Bùi Hữu Nghĩa gốc Cần Thơ, cả một đời vì nước vì dân mà cuối đời đều bị bạc đãi. Suy nghĩ cho cùng, đó là do bản chất thanh liêm chánh trực, không xua nịnh kẻ trên, biết thương yêu đùm bọc kẻ dưới, thừa hưởng tinh thần bất khuất của tổ tiên trong thời nam tiến và tây tiến:

Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua ông Tham biện, chớ bạc tiền ông để ở đâu?

 

Và lúc nào cũng đấu tranh cho công lý, nên Lục Tỉnh có những “Ông Già Ba Tri”, bà già “Nguyễn Thị Tồn” khăn gói ra tận kinh đô để “khiếu kiện”, “minh oan”.

 

Trong lúc suy tư, mắt chàng nhìn vào dòng nước biển đục ngầu. Chàng cám tạ dòng sông Cửu Long hiền hòa đã mang nhiều phù sa, chàng cảm ơn cây mắm cây đước của rừng ngập mặn đã chặn giữ phù sa bồi đắp trong suốt hơn 9 ngàn năm qua, để mỗi năm Tổ quốc lấn thêm ra biển hàng trăm mét, bù đắp lại một phần lãnh thổ bị mất trong suốt dòng lịch sử. Nhưng giờ đây rừng ngập mặn bị chính con người tàn phá, và dòng sông Cửu Long cũng đang cạn dần vì những đập nước ở thượng nguồn. Hoàng Sa Trường Sa ngoài Biển Đông cũng lần lượt bị xâm chiếm. Chàng thở dài, ngao ngán. Trong lúc suy nghĩ vẫn vơ, lòng nặng trĩu nỗi ưu tư, giữa cảnh trời nước mênh mông hiu quạnh, chàng đứng thẳng người, vung tay như rút kiếm thần, chỉ hướng Biển Đông cất tiếng ngâm vang vọng:

 

Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 (Thơ Lý Thường Kiệt)

 


Cực nam của Đất Mũi Cà Mau

Cảm tạ: Tôi chân thành cám ơn chồng tôi, Tiến Sỉ Trần-Đăng Hồng, đã góp ý, bổ túc tài liệu cho nội dung được phong phú và đa dạng hơn.

 

Anh quốc, 6/2009

Nguyễn Thị Kim-Thu

 

PHỤ LỤC

Tôi theo dõi tâm tư của chàng thư sinh si tình trong suốt hành trình trên khắp mọi miền Lục Tỉnh. Hóa ra, anh chàng không phải là kẻ thường tình. Anh đang đi tìm những nét đẹp quê hương, di tích lịch sử, những công trình khai phá mở mang bờ cỏi của tiền nhân để tô đậm thêm tình yêu đất nước.  Cảm kích lòng hào kiệt của anh, tôi có làm bài thơ:

 

 

BIỂN ĐÔNG


Biển Đông ơi! sẽ còn ngây ngất sóng

Biển tình này vọng tiếng “Tổ quốc yêu”

Lịch sử Việt Nam vinh nhục quá nhiều

Đôi ngã đôi đường “hy sinh quyết chiến”

Thao lược sử kinh, khí phách trau dồi

Đội đá vá trời anh thư tuấn kiệt

Nhuộm thắm màu cờ oanh liệt liệt oanh

Đinh, Lý, Lê, Trần thôi thúc năm canh

Kết tụ anh linh vẹn thề non nước

Hạnh phúc dân lành, bạo ngược đập tan.

 

Reading, 8/2012

Nguyễn Thị Kim-Thu


Mời đọc lại: